This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Sự phân biệt giữa bất bình đẳng thu nhập – với bất bình đẳng về kinh tế

       Trong một chừng mực nào đó các tài liệu triết học cũng có sự mặc nhiên đánh đồng. Thí dụ, trong một nghiên cứu lý thú và quan trọng của mình, “Bình đẳng, một lý tưởng đạo đức”, HarryFrankfurt, nhà triết học ưu việt, đã phê phán mạnh mẽ và có lý giải chặt chẽ cái mà ông gọi là “Chủ nghĩa bình quân về kinh tế”, và định nghĩa đó là “một học thuyết chủ trương không nên có bất bình đẳng trong phân phối tiền bạc”.

Sự phân biệt giữa bất bình đẳng thu nhập

        Tuy nhiên, sự phân biệt giữa bất bình đẳng thu nhập-với bất bình đẳng về kinh tế là quan trọng. Nhiều sự phê phán chủ nghĩa bình quân về kinh tế trên tư cách là một giá trị hoặc một mục tiêu lại được áp dụng một cách dễ dàng cho khái niệm hạn hẹp về bất bình đẳng thu nhập hơn là đối với quan niệm rộng hơn về bất bình đẳng kinh tế. Thí dụ, việc cung cấp nhiều thu nhập hơn cho một người có nhiều nhu cầu hơn- thí dụ bị tàn phế- có thể bị coi là đi ngược với nguyên tắc bình đẳng về thu nhập nhưng điều đó không đi ngược lại với khái niệm rông hơn vê bình đẳng kinh tế, bởi vì khi phán xét các yêu cầu về sự bình đẳng kinh tế thì cần tính đến tình trạng tàn tật có nhu cầu lớn hơn về nguồn lực kinh tế.

        Xét về mặt thực tế, quan hệ giữa bất bình đẳng về thu nhập với bất bình đẳng về các mặt liên quan khác có thể khá xa, ngẫu nhiên hoặc tuỳ thuộc vào các yếu tố khác, vì những ảnh hưởng kinh tế khác ngoài thu nhập đã tác động đến các bất bình đẳng về lợi thế cá nhân và các quyền tự do thiết yếu. Thí dụ, về tỷ lệ tử vong của người Mỹ da đen cao hơn người Trung Quốc hoặc người Ấn Độ ở Kerala nghèo hơn rất nhiều, chúng ta thấy có ảnh hưởng của những yếu tố đi ngược chiều với bất bình đẳng thu nhập và điều đó liên quan đến các vấn đề chính sách công bao gồm các yếu tố kinh tế quan trọng như sự tài trợ về chăm sóc sức khoẻ và bảo hiểm, giáo dục, tình hình an ninh ở địa phương v.v.

        Trên thực tế, những khác biệt về tỷ lệ tử vong có thể là một chỉ dẫn về tình trạng bất công rất sâu sắc đang chia rẽ các chủng tộc, giai cấp và giới tính, như đã thể hiện ở nhiều minh hoạ khác nhau trong chương này. Thí dụ, các ước tính về số “phụ nữ mất tích” cho thấy mức độ đáng chú ý của tình hình thiệt thòi của giới nữ tại nhiều nơi trên thế giới đương đại theo một cách mà các số liệu thống kê khác không thể phản ánh một cách đầy đủ. Thêm nữa, vì thu nhập do các thành viên của gia đình kiếm được lại được chia sẻ cho các thành viên khác của gia đình cho nên chúng ta không thể phân tích sự bất bình đẳng đối với nữ giới chủ yếu bằng cách dựa vào chênh lệch về thu nhập.


Kinh tế học và chủ đề bất bình đẳng

        Đôi khi các nhà kinh tế học bị phê phán là đã tập trung quá nhiều vào tính hiệu quả và tập trung quá ít vào sự công bằng. Lời phê bình đócó một số cơ sở, nhưng cũng cần phải ghi nhận rằng bất bình đẳng đã nhận được sự chú ý trong suốt lịch sử của môn nghiên cứu này. Adam Smith, người nhiều khi được coi là “Cha đẻ của kinh tế học hiện đại” đã quan tâm sâu sắc đến khoảng cách giữa người giàu và người nghèo.

Kinh tế học và chủ đề bất bình đẳng

        Một số các nhà khoa học xã hỡỉ và triết học có trách nhiệm trong việc làm cho bất bình đẳng trở thành đề tài trung tâm thu hút sự quan tâm của công chúng (như Karl Marx, John Stuart Mill, B. s. Rovvntree và Hugh Dalton, xin nêu các tác giả thuộc những truyền thống chung rất khác nhau), xét đến sự tham gia quan trọng, đều là những nhà kinh tế học tận tuỵ, cho dù họ có thể còn có những hoạt động. khác. Trong những năm gần đây, kinh tế học về bất bình đẳng trên tư cách là mộtchủ đề đã phát triển mạnh dưới sự lãnh đạo chủ yếu của các tác giả như A. B. Atkinson. Không phủ nhận rằng việc tập trung chú ý vào hiệu quả đến mức không tính gì đến các mối quan tầm khác đã thể hiện rõ ràng trong một số tác phẩm kinh tế học nhưng không thể tố cáo các nhà kinh tế học trên tư cách là một tập thể đã sao nhãng chủ đề bất bình đẳng.

        Nếu có một lý do nào đó để than phiền thì đó là phần lớn kinh tế học đã chỉ coi trọng một lĩnh vực hạn hẹp của bất bình đằng, tức là bất bình đẳng về thu nhập. Tính hạn hẹp này đã có tác dụng góp phần vào việc sao nhãng những cách thức khác trong việc xem xét bất bình đẳng và thiếu công bằng, và điều này có ảnh hưởng sâu rộng đến việc xây dựng chính sách kinh tế.

         Thực vậy, các cuộc thảo luận về chính sách đã bị bóp méo do quá nhấn mạnh vào sự nghèo nàn về thu nhập và bất bình đẳng về thu nhập, rồi sao nhãng sự bị tước đoạt qua các biến số khác như thất nghiệp, ốm đau, thiếu học vấn và bị xã hội ruồng bỏ. Điều không may là việc đánh đồng bất bình đẳng kinh tế với bất bình đẳng về thu nhập là điều khá phổ biến trong kinh tế học, và hai điều này nhiều khi được coi là đồng nghĩa. Nếu bạn nói với một ai đó rằng bạn đang nghiên cứu về bất bình đẳng kinh tế thì người ta phổ biến cho rằng bạn đang nghiên cứu về sự phân phối thu nhập.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế tư bản

Giải thích về tỷ lệ tử vong ở Ấn Độ

         Vì sao tỷ lệ tử vong chung của phụ nữ lại cao hơn tỷ lệ tử vong của nam giới ở các nước nói trên? Hãy xem xét Ẩn Đô, nơi tỷ lệ tử vong của nữ theo độ tuổi liên tục cao hơn so với tỷ lệ tử vong cho tới cuối những năm 1930. Tỷ lệ tử vong rất cao ở tuổi sinh đẻ một phần là do kết quả của tình trạng tử vong của nữ khi sinh con (tử vong khi sinh hoặc ngay sau khi sinh) nhưng rõ ràng không thể dụng nhận định đó để giải thích những thiệt thòi của nữ về sinh tồn trong độ tuổi hài nhi và ấu thơ.

Giải thích về tỷ lệ tử vong ở Ấn Độ

       Thỉnh thoảng có những chuyện đau lòng về nạn giết trẻ em gái ở Ấn Độ, nhưng dù có thì hiện tượng đó cũng không thể giải thích mức độ tử vong cao của phụ nữ, và sự phân bổ tử vong theo lứa tuổi. Dường như nguyên nhân chính là sự thiếu quan tâm đối với sức khoẻ và dinh dưỡng của phụ nữ, đặc biệt là trong độ tuổi ấu thơ, nhưng không chỉ trong độ tuổi đó. Thực vậy, có khá nhiều bằng chứng trực tiếp cho thấy trẻ em gái bị sao nhãng về chăm sóc sức khoẻ, điều trị ở bệnh viện, và thậm chí cả về ăn uống.

       Mặc dù trường hợp Ấn Độ đã được nghiên cứu sâu rộng hơn so với các nước khác (ở Ấn Độ có nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề này hơn bất cứ nước nào khác), có thể tìm thấy các bằng chứng tương tự về tình trạng sao nhãng đối với sức khoẻ và dinh dưỡng của trẻ em gái ở các nước khác. Thậm chí còn có một số bằng chứng cho thấy ở Trung Quốc sự sao nhãng đó có thể đã tăng mạnh trong những năm gần đây, nhất là từ khi áp dụng những hạn chế bắt buộc về sinh đẻ (chẳng hạn như áp dụng chính sách gia đình một con tại một số nơi ở Trung Quốc) cùng với các cải cách khác năm 1979.

        Cũng có một số dấu hiệu mới đáng lo ngại ở Trung Quốc, chẳng hạn như có tin tỷ lệ sinh các bé trai đã tăng rất nhanh so với các bé gái- rất khác biệt với các nơi khác trên thế giới. Điều đó có thể cho thấy có việc “giấu diếm” các em bé gái mới sinh (để tránh các biện pháp hà khắc có liên quan đến việc hạn chế sinh đẻ cưỡng bức) và cũng có thể phản ánh- và điều này không phải là vô lý- tỷ lệ tử vong cao của các em bé gái, cho dù là cố tình hay là không (không báo cáo những trường hợp mới sinh và mói chết). Tuy nhiên, gần đây phần lớn tình trạng cấu tạo gia đình không nặng về phụ nữ hình như là đo phá thai có chọn lựa theo giới tính, một điều đã trở nên phổ biến ở Trung Quốc cùng với sự tiến bộ về công nghệ.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế tư bản chủ nghĩa

Những phụ nữ mất tích trên thế giới

        Tỷ lệ phụ nữ thấp hơn nam giới tại các nước châu Á và Bắc Phi thể hiện ảnh hưởng của các yếu tố xã hội. Có thể tính toán được một cách dễ dàng rằng nếu các nước châu Á và Bắc Phi nói trên có tỷ lệ phụ nữ- nam giới giống như ở chậu Âu và Mỹ thì họ sẽ có thêm nhiều triệu phụ nữ nữa (số lượng nam giới vẫn giữ nguyên). Nếu tính theo tỷ lệ ở châu Âu và Mỹ thì chỉ riêng ở Trung Quốc số lượng “phụ nữ bị mất tích” lên tới lên 50 triệu người, và số lượng “phụ nữ bị mất tích” ở các nước châu Á và Bắc Phi nói trên là trên 100 triệu người.

Những phụ nữ mất tích trên thế giới

       Tuy vậy, việc sử dụng tỷ lệ của châu Âu hay Mỹ để tính toán có thể là không thích hợp, không chỉ do những đặc điểm đặc biệt như tình trạng tử vong của nam giới trong chiến tranh. Bởi vì ờ châu Âu và Mỹ tỷ lệ tử vong của phụ nữ thấp, cho nên tỷ lệ giữa nữ và nam đã dần dần tăng lên theo tuổi tác. Có thể dự kiến một tỷ lệ giữa nữ và nam thấp hơn ở châu Á hay Bắc Phi một phần do tuổi thọ thấp và tỷ lệ sinh đẻ cao hơn. Có một cách xử lý vấn đề này là không lấy tỷ lệ phụ nữ – nam giới của châu Âu và Mỹ làm cơ sở so sánh mà nên lấy tỷ lệ của vùng cận Sahara thuộc châu Phi, nơi mà phụ nữ ít thiệt thòi về tỷ lệ tử vong tương đối nhưng tuổi thọ lại không cao hơn và tỷ lệ sinh đẻ lại không thấp hơn (thật là trái ngược). Bằng cách lấy tỷ lệ phụ nữ- nam giới của vùng cận Sahara của châu Phi là 1,022 làm cơ sở so sánh (mà tôi đã dùng trong các nghiên cứu trước và trong các nghiên cứu chung với Jean Drèze) thì sẽ ước tính được 44 triệu phụ nữ bị mất tích ở Trung Quốc, 37 triệu ở Ấn Độ, và tồng số là trên 100 triệu ở tất cả các nước châu Á và Bắc Phi đã nêu ở trên.

       Một cách nữa để xử lý vấn đề này là dựa vào tuổi thọ thực tế và tỷ lệ sinh đẻ thực tế trong các nước đó để tính số lượng phụ nữ được dự kiến sẽ có nếu phụ nữ không có những thiệt thòi về sự tồn vong. Việc tính toán trực tiếp điều đó không phải là dễ nhưng Ansley Coale đã có được những ước tính sáng tỏ bằng cách sử dụng các bảng mô hình dân số dựa trên kinh nghiêm lịch sử của các nước “phương Tây”. Với cách tính đó, Ansley Coale đã đưa ra con số 29 triệu “phụ nữ bị mất tích” ở Trung Quốc, 23 triệu ở Ấn Độ và tổng số khoảng 60 triệu ở tất cả các nước nói trên. Tuy đó là những con số thấp hơn, song chúng vẫn rất lớn. Những ước tính gần đây, chẳng hạn như ước tính của Stephan Klasen, dựa trên các dữ liệu lịch sử được quan sát tỉ mỉ hơn có xu hướng cung cấp nhũng con số lớn hơn về tình trạng phụ nữ bị mất tích (khoảng 90 triệu).

Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế tư bản nhà nước