This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Kinh tế tư bản chủ nghĩa thời độc quyền (phần 4)

Kinh tế tư bản chủ nghĩa trong thời kì sau chiến tranh thế giới thứ hai (từ 1946 đến 1990)
Kinh tế tư bản chủ nghĩa thời kì khôi phục sau chiến tranh thế giới thứ hai (từ 1946 đến năm 1950).

Kinh tế tư bản chủ nghĩa thời độc quyền (phần 4)

Sau chiến tranh, với lợi thế của mình so với các nước châu Âu, đế quốc Mĩ áp dụng các thủ đoạn xâm nhập vào nền kinh tế của các nước đồng minh. Một mặt, họ thi hành “cuộc chiến tranh lạnh” ngăn cản các nước tư bản buôn bán với các nước xã hội chủ nghĩa, tiến hành bao vây kinh tế Liên Xô đồng thời thực hiện học thuyết Tơruman (tháng 3 năm 1947] ke hoạch Mácsan (tháng 4 năm 1948), núp dưới chiêu bài “viện trợ” để khôi phục kinh tế châu Âu. Các nước châu Âu được khôi phục nhanh chóng, nhưng đã tạo điều kiện cho đế quốc Mĩ trong 3 năm (1948-1950) bán được 10,6 tỉ đô la hàng hóa.
Đến cuối năm 1950, hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa (trừ Nhật Bản) đã khôi phục xong nền kinh tế của mình, sau đó bước vào thời kì phát triển.
Kinh tế tư bản chủ nghĩa thòi kì phát triển nhanh (1951-1970)
Trong thời gian từ 1951-1970, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phát triển với nhịp độ nhanh chóng, với nhiều hiện tượng kinh tế xã hội mới xuất hiện.
Về công nghiệp, nhịp độ phát triển nhanh hơn so với thời kì trước chiến tranh, bình quân 5,5%/năm (tảng hơn 2 lần so với thời kì 1920-1928); giá trị sản lượng bình quần một công nhân tăng từ 3090 đô la (năm 1950) lên 6110 đô la (năm 1970). Ba ngành cơ khí, hóa chất, năng lượng có nhịp độ phát triển cao nhất; ngành cơ khí đã 5,7%; hơi đốt, điện 7,7%; hóa chất 8,3%, trong khi nhịp độ của ngành luyện kim 3,8%; dệt, may mặc, thực phẩm 3 – 3,8%. Các mặt hàng tiêu dùng lâu bền như ô tô, tủ lạnh… tăng lên so với trước rất nhiều.
Về nông nghiệp: trước chiến tranh trình độ trang bị kĩ thuật còn lạc hậu rất nhiều; lao động nông nghiệp chiếm từ 1/3 đến 2/5 tổng số lao động trong các ngành kinh tế; nhiều nước Tây Âu chưa tự túc được lương thực. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều cơ sở kinh doanh trong nông nghiệp đả được hiện đại .hóa. Trung bình trên diện tích 100 ha, ở Tây Đức, Hà Lan, Áo, Tân Tây Lan, Ý có từ 11 đến 15,5 máy kéo; ở Bỉ, Mĩ, Thụy Điển, Pháp có từ 5-10 chiếc. Nhờ áp dụng những thành tựu của cách mạng khoa học kĩ thuật, sản xuất nông nghiệp ngày càng gắn bó với công nghiệp, tổ họp công – nông nghiệp, liên kết giữa các khâu sản xuất, chế biến, vận tải, tiêu thụ và cung cấp vật tư kĩ thuật được hình thành. Bốn nước tư bản: Mĩ, Pháp, Canada, Úc trở thành những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới.


Kinh tế tư bản chủ nghĩa thời độc quyền (phần 3)

Thời kì giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1914-1945)
Chiến tranh thế giới thú nhất dã làm cho loài người phải chịu những tổn thất ghê gớm
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất 70 triệu người phải ngừng sản xuất, gần 10 triệu người bị chết, 20 triệu người bi thương, sản lượng công nghiệp giảm 50% so với trước chiến tranh, 1/6 của cải vật chất của loài người bi hủy hoại (trị giá tới 208 tỉ đô la).
Tất cả các nước tham gia chiến tranh đều bi thiệt hại, chi có 2 nước giàu lên do chiến tranh (Mĩ, Nhật). Thu nhập của Mĩ tăng 40%, của Nhật, tăng 25% do bán vũ khí, lương thực cho các bên tham gia chiến tranh, hoặc cho các thuộc địa của các nước tham chiến.

Kinh tế tư bản chủ nghĩa thời độc quyền (phần 3)

Đặc điểm kinh tế các nước tư bản trong thời kì này

Nền kinh tế tư bản lâm vào tình trạng khủng hoảng và phát triển bấp bênh vì những mâu thuẫn vốn có của nó và vì xuất hiện một nước xã hội chủ nghĩa sau Cách mạng tháng Mười Nga thành công. Thời kì này, lại có thể chia thành nhiều thời kì nhỏ với những đặc trưng riêng của nó.
Từ 1918 – 1921 đánh dấu những cơn suy thoái sau chiến tranh, và có cuộc khủng hoảng năm 1920-1921. Từ 1921-1929, kinh tế các nước tư bản đã được khôi phục và phát triển vượt mức trong chiến tranh đến 2-3 lần. Nhưng sau đó, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lại gặp những mâu thuẫn mới, dẫn đến cuộc khủng hoảng 1929-1933. Đây là một cuộc khủng hoảng toàn diện, một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới lớn nhất từ trước đến nay. Năm 1933 nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới bị giảm 37% so với năm 1929. Năm 1936, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bắt đầu khôi phục lại đạt mức năm 1928. Một năm sau nổ ra cuộc khủng hoảng về chinh trị. Cao trào cách mạng đã nổ ra ở nhiều nước (ở các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam). Trước sự đe dọa đó, chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật xuất hiện, đòi chia lại thị trường thế giới. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra là biểu hiện cao nhất của những mâu thuẫn sâu sắc giữa các nước đế quốc.
Chiến tranh thế giới thứ hai đã gây nên tổn thất to lớn.
Hơn 50 triệu người bị chết, của cải bị tàn phá trị giá 962 tỉ đô la. Riêng Mĩ là một nước tư bản chủ nghĩa được giàu có lên sau chiến tranh này.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế tư bản

Kinh tế tư bản chủ nghĩa thời độc quyền (phần 2)

Kĩ thuật phát triển làm xuất hiện nhiều hình thức sản xuất và kinh doanh mới trên thế giới.
- Xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới như ngành điện, ngành khai thác và chế biến dầu lửa, ngành hóa chất; nành cơ khí chế tạo ô tô mới ra đời. Cơ cấu sản xuất đã thay đổi.

Kinh tế tư bản chủ nghĩa thời độc quyền (phần 2)

- Tiền đề xuất hiện các tổ chức sản xuất mới: quá trình công nghiệp mới cho phép thay thế những lò luyện kim nhỏ bằng những xí nghiệp luyện kim lớn có chu trình hoàn chỉnh. Điện năng phát triển cho phép mở rộng các công xưởng không cần gần nơi phát điện.

- Hình thức tích tụ, tập trung vốn mới xuất hiện – công ti .cổ phần. Công ti cổ phần trở thành một hình thức trung gian giữa những hăng riêng lẻ của thế kỉ XIX với tư bản độc quyển của thế kỉ XX. Công ti cổ phần đã giải thoát sự hạn chê của các tư bản cá biệt; mở rộng khả năng phát triển sản xuất. Nó là bước đầu của các hình thức công ti độc quyền sau này, như cácten (về giá cả), xanhđica (về tiêu thụ), tơrớt (sản xuặt và tiêu thụ), cônxoócxiom (sản xuất, tiêu thụ và tài chính). Lúc đầu, nó chỉ xuất hiện trong một số ngành nhất định, nhưng về sau, theo môi liên hệ dây chuyền, các tổ chức độc quyển mở rộng ra trong nhiều ngành khác (công nghiệp – ngân hàng thanh tư bản tai chính. Quá trình nay đả diễn ra trong những năm cuối của thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.
Tư bản mỗi nước đi lén con đường độc quyến hóa theo thí mạnh và cách thức riêng của minh. Đến đáu thế kỉ XX tính chất độc quyển hóa trong các nước tư bản phương Tây định hình. Đó là thời ki tư bản tai chính nắm quyên thông trị. Các tập đoàn tư bản độc quyên chia nhau giành giật thị trường. Từ năm 1876 đến 1914, sáu nước lớn Anh, Nga, Pháp, Nhật, Đức, Mĩ) chia nhau cướp bóc 25 triệu km2 đất đai của các thuộc địa (bằng 2,5 lần châu Âu và nó dịch 500 triệu người các nước này). Chiến tranh Mĩ – Tây Ban Nha Q889), Nga – Nhật 1905, là những mốc đánh dấu các chặng đường giành giật thị trường ở các thuộc địa, giữa các nhóm tư bản độc quyền ờ các nước. Đến trước chiến tranh thế giới thứ 1, các nước tư bản phát triển sớm (như Anh, Pháp…) đả chiếm “xong” các thuộc địa. Những nước đế quốc khác muộn màng hơn (như Mĩ, Nhật, Đức…) không có thuộc địa để bành trướng, tim nguyên liệu cho công nghiệp và đầu tư. Tư bản Đức phát triển, lấn át tư bản Anh ở châu Âu, lục địa Đông Á, Trung Á… Mâu thuẫn giữa các tổ chức độc quyền của Anh, Pháp, Đức… đã dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ I (1914-1918).

Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế tư bản chủ nghĩa

Kinh tế tư bản chủ nghĩa thời độc quyền (phần 1)

Thời kì độc quyền hóa (1871-1913)
Công xã Pari (1871) đánh dấu sự kết thúc thời ki phát triển “tiến bộ”, thuận chiều của chủ nghĩa tư bản. Từ đó nó bước sang giai đoạn mới – giai đoạn phát triển và khủng hoảng xen kẽ, giai đoạn độc quyền hóa (1871-1912) bắt đầu từ khi nền kinh tế tư bản có những phát minh mới trong các lỉnh vực sản xuất, vận tải, và đời sống. Trước hết phải kể đến những phát minh về năng lượng.

Kinh tế tư bản chủ nghĩa thời độc quyền (phần 1)

Ở giai đoạn trước, nếu hơi nước là nguồn năng lượng chủ yếu, thi thời kì này là điện và hơi đốt. Sự phát minh ra điện được các nhà nhà khoa học ứng dụng trong các ngành kinh tế (máy phát điện, máy biến thế, tàu chạy bằng điện, bóng đèn điện…). Việc phát minh ra điện năng cho phép chuyển những động cơ đi xa nơi cung cấp điện. Đó là một ưu thế lớn của điện so với hơi nước. Do phát hiện ra dấu lửa năm 1870, người ta phát minh ra đầu máy chạy bằng động cơ đốt trong, rồi một phương tiện vận tải mới ra đời (ô tô nám 1883-1985), một loại đầu máy mới có sức kéo mạnh ra đời – đẩu máy điêden (1891).

Trong lĩnh vực hóa học, người ta khám phá những nguyên tắc phân tích và tổng hợp các chất. Đó là những nguyên tắc để chê ra các loại thuốc nhuộm, thuốc chữa bệnh, nước hoa…
Kỉ thuật mới và việc khám phá ra quá trình công nghiệp hóa là tiền đề cho phát minh phương pháp luyện kim mới, phương pháp chế biến kim loại có chất lượng tốt (phương pháp luyện thép của Becxme và Mactanh vào những năm 50,60 của thế kỉ XIX; từ ngành chế tạo máy làm chai tự động, máy dệt tự động, máy in…

Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế tư bản nhà nước